Home  16 Tháng Mười Một 2018 ..:: Hành chính ::.. Login
 Xem chi tiết
Bộ Tư pháp hướng dẫn thẩm quyền về công chứng, chứng thực
(Cập nhật: 23/11/2015 20:38:17)

Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trước văn bản này, Bộ Tư pháp đã có 02 công văn hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất.


Bộ Tư pháp hướng dẫn thẩm quyền về công chứng, chứng thực

Người dân có quyền lựa chọn công chứng hoặc chứng thực phù hợp với nhu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của mình.(Ảnh minh họa)


(PLO) - Bộ Tư pháp vừa có Công văn số 4233/BTP-BTTP ngày 16/11/2015 gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn thẩm quyền về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở.

Văn bản luật không “vênh” nhau

Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trước văn bản này, Bộ Tư pháp đã có 02 công văn hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Tuy nhiên, để trả lời vướng mắc phát sinh liên quan đến vấn đề này, Bộ Tư pháp tiếp tục có văn bản hướng dẫn để các bộ, ngành, địa phương thống nhất trong các hiểu và cách triển khai.

Cụ thể, Bộ Tư pháp khẳng định các quy định có liên quan về vấn đề công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở trong Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (sau đây gọi tắt là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) không có sự mâu thuẫn nhau.

Luật Đất đai năm 2013 quy định hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 167 của Luật này.
Luật Nhà ở năm 2014 quy định trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực; tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở theo quy định tại Khoản 2 Điều 122 thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.

Như vậy, theo các quy định của Luật Đất đai, Luật Nhà ở nêu trên, cá nhân, tổ chức khi thực hiện các quyền của mình đối với quyền sử dụng đất, nhà ở được lựa chọn công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã. Việc công chứng được thực hiện theo thủ tục quy định tại Luật Công chứng năm 2014. Việc chứng thực được thực hiện theo thủ tục quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp nêu rõ: công chứng và chứng thực là hai việc khác nhau. Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề công chứng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

Chứng thực là việc UBND cấp xã chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.

Do đó, để các cá nhân, tổ chức khi giao kết hợp đồng, văn bản về quyền sử dụng đất, nhà ở hiểu được sự giống nhau và khác nhau giữa công chứng và chứng thực, đặc biệt là về hệ quả pháp lý của hai hình thức này, từ đó quyết định việc lựa chọn công chứng hoặc chứng thực phù hợp với nhu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của mình.

Đề nghị không tiếp tục chuyển giao “ngược”

Cũng tại văn bản này, Bộ Tư pháp cho biết, thực hiện Điểm b Khoản 4 Điều 26 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thời điểm thực hiện Luật đất đai năm 2003), UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành quyết định  chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp xã, cấp huyện sang các tổ chức hành nghề công chứng tại một số địa bàn cấp huyện.

Nay, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP đã bị bãi bỏ, thực hiện quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không ban hành tiếp quyết định mở rộng phạm vi chuyển giao.

Đối với những địa bàn đã chuyển giao, đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với TAND,  VKSND, Công an, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng UBND, Văn phòng HĐND và Mặt trận Tổ quốc tỉnh khảo sát, đánh giá kết quả thực hiện việc chuyển giao, đề xuất ý kiến báo cáo UBND, HĐND cấp tỉnh.

Trong trường hợp hoạt động công chứng đã ổn định, được nhân dân tin tưởng, góp phần phát triển tốt kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giảm thiểu được rủi ro, tranh chấp về đất đai, nhà ở trên địa bàn thì không quyết định lại việc chuyển giao từ tổ chức hành nghề công chứng sang UBND cấp xã, cấp huyện, qua đó góp phần giảm tải công tác hành chính tư pháp cho UBND cấp xã, cấp huyện theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính và đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công, đặc biệt là Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015 - 2016.
 

 

Quang Minh

Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam


Tin - Bài khác
Vì sao cục Thuế TP.HCM liên tục thua kiện?
Quy định mới về quản lý người nước ngoài cư trú tại Việt Nam
Page 1 of 1First   Previous   [1]  Next   Last   
*

  Bài viết cùng lĩnh vực

 
Phạt vì ‘chê’ bộ trưởng: Chưa thấu lý đạt tình.
10 hành vi nghiêm cấm trong báo chí, vi phạm sẽ bị rút giấy phép.
UBND Phường có quyền ra quyết định cưởng chế phá dỡ nhà không phép?
Trường hợp nào công an phường được tạm giữ người?
Chúc mừng năm mới 2016

  Hỏi đáp cùng lĩnh vực

Giấy chứng minh nhân dân hết hạn, không được chứng thực bản sao, đúng hay sai ?
Đang làm thủ tục ly hôn có được thừa kế tài sản của chồng?
Có bị thu hồi sổ hộ khẩu ghép?
Có được ủy quyền công chứng di chúc?
Các trường hợp chưa giải quyết thay đổi nơi cư trú?
Việt kiều về nước đem bao nhiêu tiền phải khai báo hải quan?
Mức phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Xử phạt kinh doanh hàng giả như thế nào?
Bản chính giấy khai sinh mới, ghi địa danh mới?
Đổi số CMND, cấp đổi giấy phép lái xe thế nào?
Con có được mang họ mẹ?
Xử lý hành vi bạo lực gia đình như thế nào?
Phải có sự đồng ý của người mua dâm mới được công bố thông tin
Mức xử lý vi phạm khi xây nhà trên đất công?
Xử phạt lỗi không có gương chiếu hậu?
Xử phạt hành chính trong lĩnh vực điện lực
Xử phạt khi đi xe vào đường một chiều?
Xử phạt vi phạm hành chính khi không chuyển quyền sở hữu xe ôtô?
Xử phạt vi phạm hành chính khi không có giấy phép lái xe?
Xử phạt đi xe môtô không có gương chiếu hậu, không có bảo hiểm xe?
Xử phạt hành vi đi ngược chiều
Xử phạt hành chính và bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi gây ra
Xử phạt hành chính và bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi gây ra
Xử phạt tội trộm cắp tài sản trong trường hợp tái phạm
Xử phạt hành chính đối với hành vi xúc phạm danh dự và hủy hoại tài sản cá nhân
Xử phạt hành vi gây ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung
Xử phạt hành chính của công an thị trấn
Xử phạt khi không thông báo lưu trú
Xử phạt hành chính về hành vi câu móc trộm điện
Xử phạt vi phạm hành chính hành vi kinh doanh trong thời gian thông báo tạm ngừng kinh doanh

Tư vấn pháp luật miễn phí » Tư vấn luật doanh nghiệp » Tư vấn luật thuế » Tư vấn luật lao động » Tư vấn luật sở hữu trí tuệ » Tư vấn luật hôn nhân gia đình » Tư vấn luật hình sự » Tư vấn luật đầu tư » Tư vấn luật đất đai » Tư vấn luật hành chính » Thay đổi đăng ký kinh doanh » Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp » Quản trị nội bộ doanh nghiệp » Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp » Tạm dừng kinh doanh, giải thể, pháp sản doanh nghiệp » Cấp giấy chứng nhận đầu tư » Điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư » Thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện » Lập dự án đầu tư » Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà » Chuyển nhượng, mua bán nhà đất » Tranh chấp nhà đất » Giấy phép lao động (Work permit) » Hợp đồng lao động » Tranh chấp lao động » Đăng ký kết hôn » Kết hôn với người nước ngoài » Thủ tục ly hôn » Di chúc, di sản thừa kế » Thuế thu nhập » Thuế VAT » Thuế xuất nhập khẩu » Thuế tiệu thụ đặc biệt » Tổ chức hành nghề Luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh » Tổ chức hành nghề Luật sư nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh » Góc nhìn của Luật sư » Biểu mẫu trong lĩnh vực pháp luật » Video tư vấn pháp luật » Thắc mắc về luật nghĩa vụ quân sự? » Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành » Văn bản pháp luật » Gửi yêu cầu tư vấn luật